Ý kiến thăm dò

Truy cập

Hôm nay:
100
Hôm qua:
86
Tuần này:
100
Tháng này:
1808
Tất cả:
126789
 ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU                                                                                 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

                ĐẢNG BỘ XÃ ĐÔNG HÒA 

          ẦLẦN THỨ XXVII, NK 2015-2020                                                          Đông Hòa, ngày   15   tháng 5 năm 2015

                          *                                                              

 

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ KHOÁ XXVI

tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ xã lần thứ XXVII, nhiệm kỳ 2015 – 2020

 
 
 


Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

 ĐẠI  HỘI ĐẢNG BỘ LẦN THỨ XXVI, NHIỆM KỲ 2010-2015

 

5 năm qua, Đảng bộ và nhân dân trong xã thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXVI trong điều kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Về thuận lợi, tình hình chính trị - xã hội ổn định, đảng và nhà nước ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; Đảng bộ và nhân dân trong xã luôn đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu để hoàn thành  các nhiệm vụ đã đề ra.

Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo thực hiện nghị quyết cũng gặp những khó khăn, thách thức đó là: thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh gia súc, gia cầm  và sâu bệnh gây hậu quả nặng; nền kinh tế sau suy thoái chậm phục hồi đã tác động sâu sắc đến mọi mặt của nền kinh tế và đời sống của nhân dân.

Song dưới sự lãnh đạo trực tiếp, kịp thời của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện và sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ của các phòng, ban ngành, đoàn thể huyện; Đảng bộ và nhân dân Đông Hòa đã vượt qua khó khăn, thách thức đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa- xã hội, quốc phòng- an ninh, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể.

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG - AN NINH:

1. Kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt mức kế hoạch:

Tuy không đạt được mục tiêu Đại hội nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm  vẫn đạt 11,25% và tăng 1,25% so với nhiệm kỳ trước; trong đó: nông nghiệp, thủy sản 7,3% so với nhiệm kỳ trước tăng 2,2; tiểu thủ công nghiệp, xây dựng 22,4% so với nhiệm kỳ trước giảm 4,2%; dịch vụ thương mại 18,4% so với nhiệm kỳ trước tăng 12,7%.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ tăng, nông nghiệp, thủy sản giảm.Tỷ trọng ngành nông nghiệp, thủy sản giảm từ 63% năm 2010 xuống còn 43% năm 2015, vượt mục tiêu đại hội; tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp tăng từ 23% năm 2010 lên 28% năm 2015, vượt mục tiêu Đại hội 8%. Các ngành tiểu dịch vụ thương mại không đạt mục tiêu Đại hội đề ra nhưng cũng đạt được tỷ trọng cao từ 10% năm 2010 lên 29% năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 là 20,3 triệu đồng tăng 11,2 triệu đồng so với năm 2010 vượt mục tiêu đại hội 5,3 triệu đồng.

          1.1. Sản xuất Nông nghiệp phát triển theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; diện tích vùng lúa thâm canh năng suất, chất lượng hiệu quả cao được mở rộng,  năng xuất lúa bình quân trên một héc ta đất canh tác tăng từ 110 tạ năm 2010 lên 122 tạ năm 2014, vượt với mục tiêu đại hội; Giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác năm 2014 đạt 80 triệu đồng tăng 15 triệu đồng so với cùng kỳ và đạt so với mục tiêu của đại hội; chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, điện năng được nâng lên; cơ cấu cây trồng, vật nuôi được chuyển dịch theo hướng tích cực; kinh tế trang trại, gia trại phát triển, trong nhiệm kỳ đã phát triển thêm 7 trang trại, gia trại; từng bước  áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung phát triển nhất là ở các trang trại, gia trại và các hộ có máy xay xát. Các hộ chăn nuôi đã chú trọng lựa chọn con giống có chất lượng tốt kết hợp với việc áp dụng các biện pháp KHKT nên  mặc dù tổng đàn gia súc, gia cầm giảm so với nhiệm kỳ trước nhưng hiệu quả kinh tế về chăn nuôi năm sau cao hơn năm trước. Đã phát huy tốt diện tích mặt nước ao, hồ để nuôi trồng thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân.

1.2. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp-  xây dựng cơ bản tiếp tục duy trì và có bước tăng trưởng khá; tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hàng năm đạt 28%. Toàn xã có  hơn 100 hộ  phát triển với các ngành nghề khác nhau như: vận tải, cơ khí, nghề mộc, máy xay xát, máy cày bừa, máy vò lúa, với thu nhập bình quân từ 45 – 50 triệu đồng/năm; Trong 5 năm đã du nhập và phát triển nghề làm nấm, mục nhĩ và thành lập 1 hợp tác xã sản xuất và thu mua nấm ăn do phụ nữ làm chủ với 18 hộ tham gia; 2 tổ may và 4 nhóm may thường xuyên tạo việc làm cho hơn 60 lao động.

Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản toàn xã có hơn 10 tổ thợ chuyên làm nghề xây dựng có thể xây dựng được các loại nhà cao tầng. Đây là nghề đem lại thu nhập ổn định và tạo việc làm cho hơn 200 lao động tại địa phương.

1.3 Phát triển các ngành dịch vụ được quan tâm mở rộng; các ngành dịch vụ được phát triển ngày càng đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân như: dịch vụ các khâu trong phục vụ sản xuất nông nghiệp, mua bán sản phẩm nông sản thực phẩm, sửa chữa các phương tiện phục vụ lao động sản xuất và đời sống, tiếp nhận dịch vụ cho vay của các ngân hàng và từ quỹ tín dụng, dịch vụ vận tải, kinh doanh tổng hợp,... Chợ Đông Hòa đã đầu tư nâng cấp, mở rộng đáp ứng nhu cầu giao lưu mua bán hàng hóa cho nhân dân trong xã và một số xã lân cận.

          Toàn xã có khoảng gần 400 lao động đi làm ăn ngoài địa phương và hiện nay có khoảng 145 lao động đang làm việc ở nước ngoài tăng 36 lao động so với cùng kỳ. Nguồn thu từ lực lượng lao động này  góp phần quan trọng nâng mức thu nhập bình quân của người dân địa phương .

         

1.4. Tình hình thu, chi ngân sách thực hiện đúng kế hoạch, đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định; Công tác thu ngân sách trên địa bàn được quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả, nhất là nguồn thu thường xuyên; tổng thu ngân sách ước đạt 24,3 tỷ đồng. Công tác quản lý chi được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo đúng nguyên tắc tài chính, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, giải ngân kịp thời các chế độ, chính sách theo quy định. Tổng chi ngân sách ước là 23,7 tỷ đồng.

2. Công tác ứng dụng chuyển giao công nghệ khoa học kỹ thuật được đẩy mạnh; quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên môi trường ngày càng đi vào nề nếp:

Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa đã được quan tâm; trong nhiệm kỳ, bên cạnh ứng dụng một số tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi như: giống lúa năng suất chất lượng, cây rau màu; kỹ thuật canh tác; rút ngắn chu kỳ chăn nuôi; cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, nâng cao hiệu quả làm việc, giảm thời gian đi lại của nhân dân.

Đã hoàn thành lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2012-2020, kế hoạch sử dụng đất hàng năm và chủ động thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo qui định của pháp luật, hiện tượng lấn chiếm đất đã giảm. Trong 5 năm đã chuyển mục đích sử dụng 9,63 ha đất, đề nghị cấp 565 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đấu giá đất ở được 40 lô với tổng diện tích 0,52ha. Công tác vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, chất thải sinh hoạt, chăn nuôi ra môi trường đã từng bước được khắc phục; thực hiện hợp đồng với công ty Môi trường thu gom xử lý rác thải sinh hoạt cho nhân dân.

3. Văn hoá - xã hội chuyển biến tiến bộ, an sinh xã hội được chăm lo, đời sống vật và tinh thần của nhân dân được nâng lên:

3.1. Giáo dục  tiếp tục được duy trì và phát triển; chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên đều đạt chuẩn; coi trọng công tác giáo dục toàn diện cho học sinh, công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh. Chất lượng dạy và học, nề nếp học đ­ường ngày càng đư­ợc ổn định, cơ sở vật chất đư­ợc tăng cường. Phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt 100%; phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi đạt 96,8%, phổ cập Trung học cơ sở đạt 94%. Trường Tiểu học và trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức độ I. Tỷ lệ học sinh khá giỏi năm sau cao hơn năm trước, tỷ lệ lên lớp, xét tốt nghiệp đạt 99% trở lên.

3.2. Văn hoá,  thông tin, thể dục thể thao có nhiều chuyển biến tiến bộ và đạt được nhiều kết quả; hoạt động văn hoá, thông tin đã góp phần tích cực vào công tác truyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được đẩy mạnh, trọng tâm là phong trào xây dựng làng văn hóa, cơ quan đơn vị, trường học văn hóa, gia đình văn hóa. Trong 5 năm, đã khai trương xây dựng thêm 4 làng văn hóa đưa tổng số làng được công nhận 9/12 làng, xây dựng và nâng cấp thêm 6 nhà văn hóa thôn trong đó có 3 nhà văn hóa đạt chuẩn tiêu chí nông thôn mới; có 1.037 hộ được công nhận gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ hơn 70% so với tổng số  gia đình; 2/3 trường học đạt cơ quan văn hóa.

Phong trào thể dục, thể thao ngày càng phát triển như bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, văn nghệ quần, chúng đã hình thành một số câu lạc bộ, bước đầu hoạt động có hiệu quả.

3.3. Chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm đúng mức; công tác phòng chống dịch bệnh được duy trì thường xuyên; tiêm chủng cho trẻ em đạt 100%, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 19% năm 2010 xuống còn 15,3% năm 2014. Số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh là 74,8% (mục tiêu đại hội là 90%), 85% hộ được dùng nước hợp vệ sinh (mục tiêu đại hội là 90%). Tỷ lệ người dân tham gia đóng bảo hiểm y tế của xã 63%.

 Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình được quan tâm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số, kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 0,48% giảm 0,08% so với cùng kỳ, so với mục tiêu đại hội giảm 0,02%.

 3.4. Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được nhiều kết quả quan trọng, chính sách an sinh xã hội được coi trọng; đã thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách cho người có công với cách mạng và các chính sách an sinh xã hội. Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em; phòng chống tệ nạn xã hội được tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả. Trong 5 năm đã tổ chức vận động và phối hợp trao 554 triệu đồng hỗ trợ cho 58 hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hộ chính sách để làm mới, sửa chữa, nâng cấp nhà ở.

Chỉ đạo thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, tỷ lệ giảm nghèo bình quân 4,4%/năm (mục tiêu đại hội đề ra 3%); tỷ lệ hộ nghèo từ 24,72% năm 2011 xuống còn 11,39% năm 2014.

4.5 Hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp có những bước tiến bộ; các tổ chức đã bám sát nhiệm vụ của cấp ủy và chức năng, nhiệm vụ của hội, tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ của tổ chức mình; củng cố, phát triển hội, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội, động viên nhân dân tích cực lao động sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần hội viên và cho nhân dân trong xã. Thường xuyên tuyên truyền, vận động hội viên và nhân dân thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy ước, hương ước của làng và quy định của địa phương.

4. Công tác quốc phòng - an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo:

       4.1. Công tác quốc phòng tiếp tục được củng cố, tăng cường, tập trung xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc lực lượng dân quân, lực lượng dự bị động viên vững mạnh sẵn sàng chiến đấu. Trong nhiệm kỳ đã hoàn thành công tác giáo dục kiến thức quốc phòng cho các đối tượng; thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị và tổ chức huấn luyện quân sự cho lực lượng dân quân đảm bảo chất lượng, sẵn sàng chiến đấu cao; công tác tuyển quân, trong 5 năm có 40 thanh niên lên đường nhập ngũ, hoàn thành 100% chỉ tiêu huyện giao.       4.2. An ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững; triển khai nghiêm túc về công tác an ninh, trật tự. Lực lượng công an luôn được quan tâm xây dựng, củng cố, chủ động nắm bắt tình hình, kịp thời giải quyết, xử lý các vụ việc, kiềm chế và làm giảm các hành vi, vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

5. Chương trình xây dựng nông thôn mới:

Tập trung hoàn thành quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới; kiện toàn Ban chỉ đạo, ban quản lý xây dựng nông thôn mới, ban phát triển thôn một cách kịp thời và từng bước hoạt động có hiệu quả; bộ mặt nông thôn từng bước đổi mới, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng  lên.  Sau 4 năm thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới  đã thu hút nguồn vốn  gần 30 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 3.312 triệu đồng, huyện hỗ trợ 7.187 triệu đồng, xã 5.805 triệu đồng và đóng góp của cộng đồng dân cư gần 15 tỷ đồng, 500 ngày công và hiến đất để kiên cố hóa 7,3 km giao thông nội đồng, 20,5 km giao thông nông thôn, làm mới và nâng cấp 7 nhà văn hóa thôn, sửa chữa nâng cấp công sở làm việc của xã, xây mới 6 phòng học và nâng cấp khuôn viên trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1. Phát triển và mở rộng nghề làm nấm mục nhĩ đến nay đã có 30 hộ đầu tư sản xuất, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động; thành lập hợp tác xã sản xuất và thu mua nấm ăn do phụ nữ làm chủ với 18 hộ tham gia; thành lập 2 tổ may và 4 nhóm may công nghiệp giải quyết việc làm thường xuyên cho hơn 60 lao động. Đến hết năm 2014 xã đã được công nhận 10/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ:

1. Công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được tăng cường, có một số mặt chuyển biến:

1.1. Công tác chính trị tư tưởng được quan tâm hơn và đạt được mmootj số kết quả thiết thực; đảng ủy đã nghiêm túc tổ chức học tập, quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, gắn với xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết phù hợp với tình hình địa phương, tạo sự đồng thuận cao trong nhận thức và hành động; thường xuyên nắm chắc những diễn biến về tư tưởng, tâm trạng xã hội để kịp thời có những biện pháp định hướng tư tưởng có hiệu quả trong các nhiệm vụ chính trị.

Chế độ học tập lý luận trong Đảng luôn được quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện: Trong nhiệm kỳ  đã giới thiệu 56 quần chúng ưu tú học lớp nhận thức về Đảng, 36 đồng chí học lớp đảng viên mới, 8 đồng chí học lớp trung cấp lý luận chính trị. Đến nay đội ngũ lãnh đạo, quản lý đều đạt chuẩn về trình độ lý luận chính trị theo quy định.

 

1.2. Công tác tổ chức, cán bộ và đảng viên được chú trọng; trong nhiệm kỳ đã sáp nhập chi bộ cơ quan xã với các chi bộ nông thôn. Thực hiện nghiêm túc công tác quy hoạch; tổ chức rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ được thực hiện công khai, dân chủ và đúng hướng dẫn của cấp trên. Trong nhiệm kỳ tiếp nhận luân chuyển 01 đồng chí cán bộ huyện về làm Bí thư Đảng ủy, Đảng ủy chỉ đạo thực hiện các quy trình bổ sung các chức danh thiếu khuyết theo đúng quy định. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thường xuyên được quan tâm, 1 đồng chí đi học cao cấp chính trị; 8 đồng chí học trung cấp chính trị; 7 đồng chí học đại học chuyên môn từng bước góp phần nâng cao đáng kể chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong toàn xã.

Chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, nội dung sinh hoạt chi bộ, nâng cao phương thức lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đảng viên. Qua đánh giá xếp loại hàng năm tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 60%; chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên là trên 80%; Đảng bộ năm 2014 được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ ( đạt so với mục tiêu đại hội).

 Công tác phát triển đảng viên được quan tâm, trong nhiệm kỳ đã kết nạp 36 quần chúng và đoàn viên ưu tú vào Đảng ( đạt 75% so với mục tiêu đại hội).

1.3. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường, Đảng ủy và Ủy ban kiểm tra nghiêm túc triển khai, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, qui định, hướng dẫn của cấp trên về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong đảng; xây dựng qui chế làm việc của UBKT; xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa của cấp ủy và UBKT theo Điều lệ Đảng. UBKT Đảng ủy và các Chi ủy chi bộ đã chú trọng công tác kiểm tra, giám sát tổ chức Đảng và Đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong chấp hành điều lệ, quy định của Đảng góp phần thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, chống suy thoái về đạo đức lối sống, chống tham nhũng lãng phí, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Trong 5 năm, qua kiểm tra đã xử lý kỷ luật 11 đảng viên trong đó  cách chức 01 đồng chí, cảnh cáo 2 đồng chí, khiển trách 8 đồng chí.

1.4. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí được tăng cường, Đảng ủy, UBND đã nghiêm túc quán triệt, triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đề ra nhiều giải pháp phòng chống tham nhũng, lãng phí và triển khai thực hiện đồng bộ có hiệu quả; hàng năm cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện công tác kê khai tài sản theo qui định.

1.5. Phương thức lãnh đạo của Đảng ủy, cấp ủy chi bộ tiếp tục được đổi mới; đảng ủy đã xây dựng chương trình công tác toàn khóa và quy chế làm việc của Ban Chấp hành; trong quá trình thực hiện đã cụ thể hóa, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn chi tiết để các ủy viên căn cứ thực hiện. Cấp uỷ đảng và đồng chí Bí thư cấp uỷ luôn xác định trách nhiệm của mình trong quán triệt các chỉ thị gắn với việc xây dựng các chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên; chú trọng xây dựng các nghị quyết chuyên đề tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm, những lĩnh vực mới, có nhiều khó khăn và công tác sơ kết, tổng kết quá trình thực hiện. Duy trì tốt chế độ giao ban với các chi bộ, HĐND, UBND, mặt trận và các đoàn thể; Duy trì chế độ hội ý hàng tuần của Ban thường vụ. Chất lượng nội dung các kỳ họp Ban chấp hành, ban thường vụ từng bước được đổi mới; Trong chỉ đạo đã phân công trách nhiệm cụ thể đối với các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ, uỷ viên Ban chấp hành phát huy được trí tuệ tập thể của Ban chấp hành, Ban Thường vụ và đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân nhất là người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền. Tăng cường sự phối hợp giữa cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể.

1.6. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI)  và chỉ thị 03- CT/TW của bộ Chính trị đạt được kết quả bước đầu; về Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đảng uỷ nghiêm túc triển khai, quán triệt Nghị quyết TW4 (khóa XI) đảm bảo đúng thời gian quy định. Công tác chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm được đánh giá là nghiêm túc và đạt yêu cầu. Sau kiểm điểm, tập thể và cá nhân nghiêm túc xây dựng kế hoạch khắc phục thiếu sót, khuyết, nên Đảng ủy đã khắc phục được 10/14 hạn chế, khuyết điểm: Các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng ủy khắc phục được 51/ 62 hạn chế, khuyết điểm.

Thường xuyên đẩy mạnh việc lãnh đạo thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, hướng dẫn và phát động tập thể và cán bộ, Đảng viên, công chức, viên chức, Đoàn viên, hội viên lựa chọn nội dung để làm theo. Kết quả đã có nhiều chi bộ, nhiều cá nhân có những cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như: cách vận động để huy động nguồn lực tham gia xây dựng nông thôn mới, xây dựng các mô hình, các điển hình tiên tiến gắn với phong trào quần chúng ở cơ sở. Hàng năm Đảng ủy đã khen thưởng biểu dương các tập thể và cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Năm 2013 tập thể Hội LHPN xã và cá nhân đồng chí Chủ tịch Hội LHPN xã được chủ tịch UBND huyện tặng giấy khen. Kết quả học tập và làm theo Bác đã góp phần đổi mới lề lối, tác phong làm việc, nêu cao ý thức, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên.

 2. Công tác quản lý nhà nước, hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền được nâng lên rõ rệt:

2.1. Hoạt động của HĐND từng bước được đổi mới phuwong thức hoạt động, nâng cao chất lượng các kỳ họp, các cuộc tiếp xúc cử tri.  Phối hợp với UBND, MTTQ chuẩn bị tốt nội dung các kỳ họp, các kỳ tiếp xúc cử tri. Ban hành được 31 nghị quyết kịp thời, sát đúng với tình hình thực tế ở địa phương. Các nghị quyết của HĐND ban hành được triển khai và giám sát có hiệu quả. Thường trực HĐND, các đại biểu HĐND thực hiện các cuộc kiểm tra, giám sát thường xuyên hơn. Thực hiện tốt công tác chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp. Nội dung các kỳ họp được tuyên truyền trực tiếp trên hệ thống loa truyền thanh của xã để cho toàn thể nhân dân biết, bàn và tổ chức thực hiện có hiệu quả.

2.2. Hoạt động của UBND đã từng bước đổi mới, nâng cao năng lực quản lý, điều hành trên các lĩnh vực đời sống xã hội, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tổ chức thực hiện có kết quả các nghị quyết của Đảng ủy, HĐND đã đề ra; quan tâm, chăm lo phát triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh; xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở. Công tác cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa và một cửa liên thông được thực hiện tốt hơn tạo điều kiện cho tổ chức và công dân trong giải quyết công việc; công khai minh bạch việc quản lý ngân sách, quản lý đất đai, quản lý xây dựng cơ bản, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo; quan tâm đạo tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ công chức, đến nay đã có 80% cán bộ công chức có bằng đại học và đang học đại học; tinh thần, trách nhiệm của cán bộ công chức  trước công việc từng bước được nâng lên.

3. Công tác dân vận được tăng cường; hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội ngày càng thiết thực:

3.1 Công tác dân vậncủa hệ thống chính trị được quan tâm chỉ đạo và ngày càng quả hiệu quả; công tác dân vận có nhiều chuyển biến. các tổ chức trong hệ thống chính trị đã có nhiều chủ trương, giải pháp và chú trọng hơn đến công tác dân vận; đổi mới công tác chỉ đạo hoạt động của khối dân vận; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận; chỉ đạo xây dựng các điển hình "dân vận khéo", các mô hình hoạt động của MTTQ và các đoàn thể; tăng cường công tác dân vận chính quyền và các chương trình phối hợp về công tác dân vận. Triển khai và thực hiện tốt pháp lệnh 34 ở cơ sở tạo được sự đồng thuận trong nhân dân, huy động tối đa các nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng- an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

3.2. Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đổi mới nội dung phương thức hoạt động, các hình thức thu hút tập hợp đoàn viên hội viên ngày càng đa dạng, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng phản ảnh với cấp ủy, chính quyền. Vận động đoàn viên, hội viên tích cực tham gia thực hiện đường lối chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; đẩy mạnh các phong trào thi đua trong MTTQ và các đoàn thể được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng như: phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, cuộc vận đông phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và vận động nhân dân tích cực ủng hộ quỹ " ngày vì người nghèo” của MTTQ;   phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo trong đoàn viên công đoàn; phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, mô hình tổ nhóm tiết kiệm, mô hình 5 không, 3 sạch; Hội Nông dân với phong trào “Sản xuất kinh doanh giỏi”;  Hội Cựu Chiến binh với phong trào “Phối hợp phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội”; Đoàn xã với phong trào “Thanh niên tình nguyện xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Tỷ lệ tập hợp vào các tổ chức Hội ngày càng tăng. Đoàn thanh niên 119 đoàn viên đạt 67%; Hội phụ nữ 1.231 đoàn viên đạt 81%; Hội Nông dân 718 hội viên đạt 73%; Hội Cựu chiến binh 384 hội viên đạt 95%. MTTQ và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện việc giám sát và phản biện xã hội, tham gia đống góp ý kiến đối với Đảng, chính quyền thiết thực và hiệu quả.

       Đạt được những kết quả như trên là do các nguyên nhân:

Cấp ủy Đảng, chính quyền đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và kịp thời, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy, HĐND, UBND, các ban ngành đoàn thể cấp huyện tạo điều kiện để địa phương khắc phục khó khăn  phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.

 Cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể nhân dân quán triệt nghiêm túc các quan điểm chỉ đạo của TW, của Tỉnh. huyện, đoàn kết thống nhất linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Luôn coi trọng sự thống nhất giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với sự điều hành của chính quyền và công tác phối hợp vận động của MTTQ, các đoàn thể. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở vì vậy đã tạo được sự đồng thuận, thống nhất của cán bộ và nhân dân trong toàn xã trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ của địa phương.

Đảng bộ và nhân dân trong xã đã nêu cao truyền thống cách mạng, tự lực, tự cường phát huy lợi thế của địa phương tranh thủ mọi nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, xây dựng kết cấu hạ tầng và từng bước hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng được hoàn thiện về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận, kỹ năng công tác từng bước đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ trong tình hình hiện nay. Phần lớn đảng viên nhiệt tình, gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào của địa phương.

B. NHỮNG HẠN CHẾ KHUYẾT ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

          1. Hạn chế, khuyết điểm:

Công tác lãnh đạo điều hành sản xuất nông nghiệp hiệu quả chưa cao, chưa có bước đột phá, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi còn chậm, sản xuất vụ đông không đạt kế hoạch, tỷ trọng nông nghiệp còn cao; tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại còn nhỏ lẻ, chưa đa dạng. Thu nhập bình quân/người/năm còn thấp so với mặt bằng chung của huyện. Công tác quy hoạch, sử dụng đất đai có những năm chưa đạt kế hoạch. Thu ngân sách tuy quyết liệt nhưng khoản thu từ đấu giá sử dụng đất chưa đạt theo kế hoạch đề ra.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới trong những năm đầu còn lúng túng, chưa quyết liệt; hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban phát triển thôn hiệu quả chưa cao.

Chất lượng giáo dục đại trà chưa đồng đều, chất lượng giáo dục mũi nhọn chưa được quan tâm đúng mức; chất lượng hoạt động của một số làng văn hóa còn hạn chế, các thiết chế văn hóa chưa phát huy được tác dụng.

 Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội chưa thực sự ổn định vững chắc vẫn còn hiện tượng đánh bài, ghi số đề, nghiện ma túy...làm ảnh hưởng đến tư tưởng của một bộ phận nhân dân.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng có lúc, có nơi chưa được coi trọng đúng mức; việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ chính trị của địa phương có mặt còn hình thức. Một số cán bộ, đảng viên chưa thực sự tiền phong gương mẫu, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình  còn hạn chế; việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm theo tinh thần nghị quyết TW 4 chưa nghiêm túc.Số đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật tăng so với nhiệm kỳ trước.

Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, một cửa liên thông chưa đồng bộ. Đơn thư kéo dài, vượt cấp, mạo danh, nặc danh vẫn còn.

Hoạt động của một vài đoàn thể chưa có sự đột phá vẫn mang nặng tính hành chính, việc phối hợp chỉ đạo và tổ chức tuyên truyền vận động cán bộ hội viên và nhân dân thực hiện nghị quyết của cấp ủy và tham gia xây dựng nông thôn mới còn hạn chế.

2. Nguyên nhân:

 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, sự giám sát của HĐND, sự quản lý điều hành của UBND, sự phối hợp của MTTQ và các đoàn thể, có lúc có việc chưa toàn diện, kịp thời và quyết liệt.

 Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn chậm đổi mới, chưa đáp ứng với nhiệm vụ được giao; ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ trong việc tổ chức triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết và nhiệm vụ chính trị của địa phương chưa nghiêm túc.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng chưa thường xuyên, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình còn nể nang, né tránh.

Hoạt động của  một vài đoàn thể chưa có sự đột phá vẫn mang nặng tính hành chính; năng lực, kỹ năng vận động quần chúng của một bộ phận cán bộ đoàn, hội chưa đáp ứng được yêu cầu.

Công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thực hiện nghị quyết, khắc phục hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm sau kiểm điểm theo tinh thần nghị quyết TW 4 (khóa XI) chưa thường xuyên.

3. Bài học kinh nghiệm:

3.1. Cấp ủy phải quán triệt sâu sắc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn của địa phương. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giữ vững và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc về tổ chức và xây dựng Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước của chính quyền. Đi sâu, đi sát cơ sở, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, ban hành những chủ trương và biện pháp sát với tình hình cụ thể của địa phương; giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, những đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

3.2. Trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cần quan tập trung giải quyết các vụ việc tồn đọng kéo dài, đồng thời xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, lựa chọn khâu đột phá để tập trung giải quyết đạt kết quả, hiệu quả cao; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hóa xã hội, đảm bảo quốc phòng- an ninh, ổn định chính trị -xã hội.

3.3. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, cần thực hành dân chủ, công khai, phát huy tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh, công bằng đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Xây dựng các mô hình điển hình để học tập rút kinh nghiệm và nhân diện rộng. Trong chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức trong bộ máy Đảng, chính quyền và đoàn thể phải sát dân, hiểu dân, học dân và giúp nhân dân lựa chọn được cách làm hay phù hợp tình hình thực tế.

3.4. Thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

 

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU,  NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP

CHỦ YẾU NHIỆM KỲ 2015 – 2020

Những năm tới, dự báo tình hình kinh tế trong tỉnh, trong huyện ổn định và phát triển. Đảng bộ có truyền thống đoàn kết và kinh nghiệm lãnh chỉ đạo, điều hành của nhiệm kỳ qua cùng với sự đồng thuận của nhân dân trong xã là tiền đề để thực hiện tốt nhiệm vụ đã đề ra.

          Tuy vậy, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và đời sống của nhân dân trong xã vẫn còn nhiều khó khăn; năng lực quản lý điều hành, thái độ và trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ, công chức chưa ngang tầm nhiệm vụ. Là một xã thuần nông, nội lực trong dân thấp, trình độ dân trí không đồng đều, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, du nhập nghề mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm, những yếu tố đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội của xã; đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của Đảng bộ và nhân dân trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đã đề ra.

I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; tiếp tục giữ vững kỷ cương, tăng cường đoàn kết, khơi dậy tính tự lực, tự cường, phát huy nội lực đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh. Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa – xã hội, đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phấn đấu đến năm 2019 hoàn thành xã nông thôn mới.

II. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

         * Về kinh tế:

         1. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đến năm 2020 đạt 42 tỷ đồng.

         2.  Sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt 4.106 tấn.

         3. Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chủ yếu năm 2020:

               + Cây lúa: Diện tích 279 ha; năng suất  trung bình 70 tạ/ha; sản lượng 3.906 tấn.

              + Cây ngô: Diện tích 40 ha; năng suất  trung bình 50 tạ/ha; sản lượng 200 tấn.

4. Tổng đàn gia súc, gia cầm năm 2020 là 116 nghìn con trở lên

5. Giá trị sản xuất trung bình trên 1 ha đất canh tác hoặc nuôi trồng thủy sản năm 2020 đạt 120 triệu đồng/ha/năm trong đó có mô hình sản xuất có giá trị sản xuất 350- 500 triệu đồng/ha/năm.

         6. Số  hộ sản xuất, kinh doanh cá thể vào năm 2020 đạt 214 hộ, trong đó:

         - Nông lâm, thủy sản 3 hộ

         - Tiểu thủ công nghiệp 20 hộ

         - Dịch vụ 191 hộ

         7. Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn vào năm 2020 có 5 doanh nghiệp.

         8. Số trang trại  trên địa bàn vào năm 2020 có 20 trang trại.

         9. Tỷ lệ tăng thu ngân sách hàng năm 12%

         10. Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 44,4 triệu đồng.

         11. Tỷ lệ thôn đạt chuẩn nông thôn mới năm 2020 là 100%.

         12. Tỷ lệ giao thông đến năm 2020 được cứng hóa 100%

         * Về văn hóa – xã hội:

         13. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên  hàng năm thấp hơn 0,5%

         14. Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2020 là 4,93%

         15. Tỷ lệ hộ cận nghèo đến năm 2020 là 5,34%.

         16. Tỷ lệ nhà kiên cố của các hộ gia đình đến năm 2020 đạt trên 90%.

         17. Tỷ lệ trẻ em dưới 6 tuổi được tiêm phòng hàng năm đạt 100%.

         18. Tỷ lệ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa năm 2020 đạt 87%.

         19. Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa năm 2020 là 100%.

         20. Số thôn đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến năm 2020 là 8 thôn trở lên.

         21.  Tỷ lệ đạt trường chuẩn Quốc gia đến năm 2017 là 100%.

         22. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động năm 2020 thấp hơn 28%.

         23. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 là 65%

         24. Xã đạt chuẩn về y tế vào năm 2015.

         25. Số người được giải quyết việc làm mới trong 5 năm là 950 người.

         26. Số lao động xuất khẩu trong 5 năm là 210 người.

* Về môi trường:

27. Tỷ lệ dân số nông thôn  được sử dụng nước hợp vệ sinh đến năm 2020 là 100%.

28. Tỷ lệ thôn đạt chuẩn về môi trường là 100%.

* Về an ninh trật tự:

29. Tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự 85%.

* Về xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể:

30. Bình quân hàng năm có 80% chi bộ Đảng đạt trong sạch vững mạnh, không có chi bộ yếu kém; đảng bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

31. Bình quân hàng năm kết nạp 7 đảng viên mới

         32.  MTTQ và các đoàn thể đạt hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên

         33. Chính quyền đạt hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên 

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1.     Về phát triển kinh tế:

1.1. Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng cao, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới:

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kế hoạch tái cơ cấu nông nghiệp của xã gắn với kế hoạch của huyện; thực hiện thành công việc phát triển nông nghiệp theo hướng quy vùng tập trung, hình thành cánh đồng mẫu lớn liên thôn chuyên canh cây lúa nước ở các thôn 2,3,4,5 với diện tích 120 ha, áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa, duy trì và phát triển vùng lúa năng xuất, chất lượng, hiệu quả cao 250 ha. Chuyển đổi thành công 20 ha đất ở đồng cao tại thôn 1, thôn 9, thôn 11 sang trồng ngô dãi vụ, thức ăn chăn nuôi trâu, bò, rau màu các loại; chuyển 10 ha tại thôn 7, thôn 10 sang trồng cây ăn quả; chuyển 40 ha ở 11 thôn sang mô hình cá- lúa. Tích cục thu hút các nguồn lực đầu tư vào sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm giữa hộ nông dân với doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại bằng các hình thức như tích tụ ruộng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, bán, chuyển nhượng, cho thuê đất...

 Tiếp tục đầu tư hoàn thiện giao thông, thủy lợi nội đồng: bê tông hóa 4 km  đường trục chính ngoài đồng tại thôn 9, 10, 11 tạo điều kiện thuận lợi để đưa cơ giới hóa vào sản xuất, từng bước cải tạo, nâng cấp, tu sửa hệ thống mương tưới bằng bê tông, xây kè các đoạn mương tiêu xung yếu để chủ động tiêu úng.

Phát triển chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp. Tập trung vào phát triển đàn bò kết hợp tận dụng chăn thả và trồng cỏ nuôi tập trung. Phấn đấu đến năm 2020 đưa đàn trâu, bò lên 800 con; phát triển chăn nuôi lợn tập trung vào các hộ có máy xay xát, trang trại, gia trại phấn đấu đến năm 2020 đưa tổng đàn lợn  lên 3.000 con; phát triển mạnh đàn vịt thịt thời vụ và đàn vịt siêu trứng phấn đấu đến năm 2020 tổng đàn gia cầm trên 115 nghìn con. Tận dụng tối đa 14 ha ao hồ  và 40 ha chuyển đổi mô hình cá, lúa để nuôi cá nước ngọt, vận động nhân dân nuôi các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao. Phấn đấu đưa giá trị thu nhập từ chăn nuôi chiếm tỷ trọng 50% trở lên trong sản xuất nông nghiệp.

1.2. Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Tiếp tục tạo điều kiện tốt nhất về đất đai, nguồn vốn để các hộ đầu tư phát triển mạnh mô hình làm nấm, mục nhĩ. Đưa tổng số hộ làm nấm, mục nhĩ từ 30 hộ lên 100 hộ vào năm 2020. Đấu mối với sở Khoa học công nghệ, Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thanh Hóa cấp chứng nhận VIETGAP cho sản phẩm nấm, mục nhĩ, xây dựng vùng sản xuất nấm, mục nhĩ tập trung. Khuyến khích mở rộng các xưởng may và tổ may để tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động tại địa phương. Phấn đấu đến năm 2020 trên địa bàn xã có từ 15 tổ may trở lên, mỗi tổ may  thu hút từ 10- 15 lao động; toàn xã có 214 hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, 5 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn.

1.3. Phát triển ngành dịch vụ:

Quan tâm chỉ đạo phát triển dịch vụ thương mại theo hướng đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ nhất là các dịch vụ như: cơ khí, mộc, dịch vụ vận tải, dịch vụ các khâu sản xuất trong nông nghiệp, chế biến nông sản...Thực hiện tốt công tác quản lý và nâng cao chất lượng dịch vụ thương mại tại chợ. Phấn đấu xuất khẩu được 210 lao động để giải quyết việc làm, tăng thu nhập và tái đầu tư sản xuất tại địa phương.

1.4. Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới:

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu năm 2019 được công nhận xã nông thôn mới, giữ vững 10 tiêu chí đã được công nhận, xây dựng kế hoạch cụ thể để hoàn thành 9 tiêu chí còn lại. Năm 2015 phấn đấu hoàn thành 3 tiêu chí là tiêu chí giao thông, tiêu chí ytế, tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên; năm 2016 hoàn thành tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội, tiêu chí thủy lợi; năm 2017 hoàn thành tiêu chí trường học, tiêu chí môi trường; năm 2018 hoàn thành tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo; năm 2019 hoàn thành tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa. Huy động tối đa các nguồn lực đầu từ cùng với ngân sách xã và đóng góp của nhân dân đầu tư xây dựng và hoàn thiện 4,2 km đường trục chính nội dân cư; xây dựng trạm y tế đạt chuẩn vào năm 2015; Xây mới thêm 1 số phòng học, phòng chức năng và nâng cấp trường THCS đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 vào năm 2017; sửa chữa nâng cấp Đình Thượng Thọ; xây mới công sở làm việc và trung tâm văn hóa, thể thao của xã.

1.5. Đảm bảo thu, chi ngân sách

Thực hiện rà soát, cân đối các nguồn thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ các loại phí, lệ phí và các khoản thu trên địa bàn xã. Tăng thu ngân sách trên cơ sở phát triển sản xuất, kinh doanh để khai thác, mở rộng nguồn thu, phấn đấu tăng thu ngân sách trên địa bàn xã đạt 12%/ năm so với dự toán huyện giao. Thực hiện nghiêm luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quản sử dụng vốn ngân sách, đảm bảo cân đối ngân sách, phấn đấu cân đối chi cho đầu tư, phát triển đạt 25% trở lên trong tổng chi ngân sách của xã vào năm 2020.

2.     Về văn hoá - xã hội:

2.1. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất như: ứng dụng khoa học- công nghệ về giống, cây trồng, vật nuôi, biện pháp canh tác để xây dựng các mô hình trong sản xuất nông nghiệp tạo điều kiện  thu hút các dịch vụ tư vấn về kho học – công nghệ vào địa phương.

2.2. Đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giáo dục:

Tiếp tục đầu tư trang thiết bị và duy trì ổn định hệ thống trường lớp. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn;  trường Tiểu học và mầm Non giữ vững trường chuẩn Quốc gia mức độ 1, xây dựng trường THCS đạt chuẩn Quốc gia  mức độ 1 vào năm 2017; đẩy mạnh phong trào xã hội hóa giáo dục, phong trào khuyến học, phát triển hoạt động của trung tâm giáo dục cộng đồng.

2.3. Nâng cao chất lượng ytế phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân:

Đầu tư nâng cấp nhà làm việc và trang thiết bị trạm y tế đạt chuẩn . Nâng cao trách nhiệm và tinh thần phục vụ của  y, bác sỹ trạm y tế và đội ngũ y tá thô; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân; chủ động phòng chống dịch bệnh; tuyên truyền, vận động để nhân dân thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác thải và xây dựng 3 công trình vệ sinh. Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, hạn chế các trường hợp sinh con thứ 3 trở lên. Nâng tỷ lệ người dân  tham gia bảo hiểm y tế đạt từ 70% trở lêm vào năm 2020.

2.4. Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa – thông tin- thể dục thể thao:

Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với mọi người dân. Bổ sung, xây dựng các thiết chế văn hóa ở thôn góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của làng văn hóa, chất lượng gia đình văn hoá, trường học có đời sống văn hoá, thực hiện tốt quy ước làng văn hoá, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội...  Phát triển các loại hình hoạt động thể dục, thể thao, nâng cao sức khỏe cho nhân dân. Phấn đấu đến năm 2017 xã và trường THCS đạt cơ quan văn hóa.

2.5. Tăng cường công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách an sinh xã hội:

Phối hợp tổ chức các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tiếp tục thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, xuất khẩu laođộng;  thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, bảo đảm các đối tượng đặc biệt khó khăn được giúp đỡ để có cuộc sống ổn định và hòa nhập với cộng đồng..

3. Về quốc phòng - an ninh

Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên đảm bảo chất lượng. Hoàn thành các chỉ tiêu huấn luyện, tuyển quân và giao quân đảm bảo đủ số lượng và chất lượng; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Thường xuyên củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, không để xảy ra tình huống  đột xuất, bất ngờ.

Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã; thực hiện  có hiệu quả chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm; đảm bảo an toàn giao thông. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của ban công an xã, tổ an ninh trật tự, tổ an ninh xã hội; kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh không để xảy ra trọng án; nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, đến năm 2020 xây dựng 85% khu dân cư đạt tiêu chí an toàn về an ninh xã hội.

4. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền MTTQ và các đoàn thể:

4.1. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng:

Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền chủ  trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tăng cường giáo dục rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống trong cán bộ đảng viên nhất là thế hệ trẻ. Tăng cường bám nắm cơ sở, nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cục bộ, chia rẽ, bè phái, làm mất đoàn kết nội bộ

4.2. Công tác tổ chức- cán bộ:

Thực hiện tốt đề án " Một số vấn đề đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị huyện Đông Sơn giai đoạn 2014-2020" ngày 14/8/2014 của Ban Thường vụ huyện ủy Đông Sơn. Thực hiện quy trình đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, cán bộ  và đảng viên theo đúng hướng dẫn. Rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ, hàng năm có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn đáp ứng yêu cầu. Tăng cường công tác quản lý đảng viên phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên trong mọi nhiệm vụ. điều kiện và hoàn cảnh công tác. Tăng cường trách nhiệm của chi bộ, đảng viên trong việc phát hiện nguồn, bồi dưỡng kết nạp quần chúng ưu tú vào đảng

4.3. Công tác kiểm tra, giám sát:

Tiếp tục quán triệt sâu sắc Điều lệ Đảng, các quy định của đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tập trung nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát. Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với chi bộ, cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cấp ủy và các tổ chức chính trị- xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng uỷ, của UBKT Đảng uỷ, Chi uỷ Chi bộ theo Quy định của Điều lệ Đảng, kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm, xử lý nghiêm minh đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặc biệt là người đứng đầu các tổ chức.

4.4. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả nghị quyết TW 4 ( khóa XI) và chỉ thị số 03 CT/TW của Bộ chính trị:

Nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ, chi uỷ các chi bộ và tinh thần trách nhiệm ý thức tự giác của cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; Tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “ Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI "một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay". Thực hiện tốt chế độ, thời gian và lề lối làm việc của hệ thống chính trị gắn với việc đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa liên thông.

4.5. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND; phát huy hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, điều hành của chính quyền.

Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND, nhất là trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đôn đốc tổ chức thực hiện nghị quyết theo chương trình kế hoạch. Nâng cao vai trò trách nhiệm, phát huy dân chủ, trí tuệ của đại biểu để các Nghị quyết sát với tình hình thực tiễn của địa phương phát huy được hiệu quả cao nhằm phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân; đặc biệt là nâng cao chất lượng Đại biểu HĐND.

UBND tăng cường đổi mới công tác quản lý, điều hành phân công trách nhiệm cho cán bộ, công chức nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả thực thi công việc. Thực hiện tốt pháp lệnh dân chủ, cải cách hành chính theo mô hình một cửa và một cửa liên thông, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong điều hành và thực thi nhiệm vụ.

4.6. Tăng cường công tác dân vận của hệ thống chính trị; nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể, các tổ chức xã hội:

Tăng cường hơn nữa công tác Dân vận của hệ thống chính trị, đổi mới phương pháp công tác, nội dung phương thức hoạt động của hệ thống Dân vận Chính quyền, MTTQ, các đoàn thể, hội quần chúng. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Khối Dân vận và Tổ Dân vận thôn, công tác “ Dân vận khéo” ở thôn. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, các phong trào thi đua, các cuộc vận động nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân  để tham gia phát triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh.

 Các phong trào của MTTQ và các đoàn thể nhân dân phải hướng mạnh về thôn, xóm và tập trung cao cho các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của địa phương, của Hội. Tổ chức thực hiện tốt Quyết định 217 QĐ/TW của Bộ Chính trị về ban hành quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội và Quyết định 218-QĐ/TW về ban hành quy định về  MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.  Nâng cao chất lượng nội dung sinh hoạt, phấn đấu mỗi đoàn thể hàng năm có 1 mô hình riêng về lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, quốc phòng và an ninh của địa phương. Nắm chắc mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Đảng uỷ để phối hợp với chính quyền, các ban ngành, phát động phong trào thi đua trong quần chúng nhân dân thực hiện đạt chất lượng hiệu quả cao. Chăm lo giáo dục truyền thống, giáo dục chính trị tư tưởng cho hội viên, đoàn viên và động viên nhân dân hăng say lao động sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, giữ gìn tốt công tác quốc phòng - an ninh.

Nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ trong 5 năm tới là rất nặng nề và còn nhiều khó khăn, thách thức song chúng ta tin tưởng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy, UBND huyện và các ban ngành cấp huyện cùng với truyền thống đoàn kết, sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân trong xã và những kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của những năm qua nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn trở ngại, thực những nhiệm vụ, mục tiêu Đại hội đảng bộ lần thứ XXVII  nhiệm kỳ (2015 - 2020) đề ra,/.

                                                                     BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ

 

Tình hình kinh tế - xã hội